Nguyễn Phú Trọng » Chính Trị – Xã Hội » Đa đảng để đạt được dân chủ liệu có tốt đẹp như thế lực thù địch vẫn “khuyên”?

(Chính trị) - Dưới chế độ phong kiến hay chiếm hữu nô lệ, không có dân chủ mà chỉ có quân chủ. Tức là mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về vua, vua có quyền tối cao để cai trị con dân. Nếu một người vua tốt, biết vì nhân dân, xã tắc thì nhân dân được nhờ, xã hội bình yên; nếu được cai trị bởi một vua xấu, tham lam, thích ưa nịnh thì nhân dân đói khổ, xã hội rối loạn.

Dưới chế độ tư bản, quyền vua được chuyển hóa thành quyền dân, quân chủ chuyển hóa thành dân chủ. Hình thức tổ chức nhà nước khi này được thành lập đa dạng, có quân chủ lập hiến, có dân chủ đại nghị, dân chủ nghị viện, dân chủ chế độ tổng thống, quốc trưởng,… Nhưng bản chất dân chủ ở tư bản thực ra chỉ là quyền lực được tập trung trong tay các giai cấp thống trị.

Tỉnh táo, kiên định trước chiến lược “diễn biến hòa bình”

Tuy mang tiếng là đa đảng, nhưng không phải đảng nào khi cầm quyền cũng đặt lợi ích nhân dân lên hàng đầu, mà phần lớn trước hết đều phục vụ cho giai cấp, lợi ích của thế lực đại diện mình.

Ở chế độ tư bản, vấn đề đa nguyên, đa đảng dựa trên quan hệ chiếm hữu tư nhân, tư bản về tư liệu sản xuất, nó chủ mang lại dân chủ cho một nhóm thiểu số giai cấp, những người có tiền, có quyền; chứ không phải quần chúng nhân dân lao động.

Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, về lý thuyết thì mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nhân dân chính là người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp hướng tới sự bình đẳng, quyền con người cao nhất.

Khi này, Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền, đại diện cho toàn thể nhân dân chứ không phải chỉ cho giai cấp, trí thức, nông dân, tư sản,… nào cả. Như ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc; là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Ở góc độ dân chủ và dân chủ hóa, dù bất cứ giai đoạn dân chủ tư sản hay dân chủ XHCN, cũng đều là bước tiến của lịch sử, là các thang bậc tiến bộ khác nhau. Những giá trị thay đổi theo thời gian về dân chủ là có thật, không ai có thể phủ nhận giá trị đó.

Nhưng để đánh giá một nền dân chủ thì cần phải căn cứ dựa trên trước hết là quyền lực thuộc về ai, lợi ích thuộc về ai và phục vụ ai. Đánh giá một đảng phái chính trị dân chủ hay cộng hòa không phụ thuộc vào cái tên gọi, mà phải xem họ đại diện cho ai, đấu tranh vì lợi ích của nhóm nào.

Ở nước Mỹ, mẫu hình dân chủ đa đảng, đa dạng nhưng không phải tất cả họ đều phục vụ nhân dân. Chính phủ Mỹ ra đời dựa trên nền trảng giái trị pháp lý là sự cho phép của nhân dân. Tuy nhiên, lịch sử đã và đang chứng minh rằng nhân dân phục vụ cho chính quyền, chứ chính quyền chưa thực sự vì nhân dân.

Ngay như một hiện tượng bất ổn trong đạo đức, bạo lực xã hội ở Mỹ dưới thời cựu Tổng thống Mỹ B.Clinton cũng đã trở thành một nỗi ám ảnh của nhân dân, Chính phủ không thể kiểm soát được sự bất ổn này, khiến cựu Tổng thống Mỹ B.Clinton phải thốt lên rằng: “Những người dân Mỹ biết tôn trọng luật pháp rất sợ đi bộ trên các đường phố lân cận của mình; họ thậm chí còn sợ cả việc cho con cái đến trường. Bị ngăn cản bởi các liên minh buôn bán vũ khí từng gây sức ép với Quốc hội, các nỗ lực muốn làm cho tình hình trở nên lành mạnh đã bị kìm giữ trong nhiều năm…” (B.Clinton, Giữa hy vọng và lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, H. 1997, tr.82).

Dường như, cái gọi là dân chủ của nước Mỹ chỉ là một ý niệm, chứ không hoàn toàn là sự thật. Nhiều những công dân của chính nước Mỹ đã chỉ ra hình mẫu xã hội này chỉ là “ảo giác”, khuếch chương về một quyền lợi được tôn trọng, “ảo ảnh” về tự do báo chí, tự do ngôn luận và nhân quyền.

Giáo sư trường Đại học bang Indiana – Paul Mishler đã chỉ rõ vấn đề này như sau: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học… đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”; “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”.

Những minh chứng ở trên, đã chứng minh thấy được dân chủ thực sự không phụ thuộc vào độc đảng hay đa đảng, mà phụ thuộc vào bản chất của chế độ cầm quyền của đảng đó đang phục vụ cho giai cấp nào.

Hiện nay, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đa dạng hoá sự phát triển của xã hội với những chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất với đa dạng hóa hình thức sở hữu giống như các nước tư bản.

Tuy nhiên, ở Việt Nam không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, bởi vì hiện nay mục đích đa nguyên, đa đảng không phù hợp với đặc điểm văn hóa, lịch sự, hình thái quốc gia ở Việt Nam. Bởi đa đảng mục đích kêu gọi này đã lộ rõ bản chất thâm hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và những thế lực thù địch đang cố gắng chống phá cách mạng và sự bình yên, nền độc lậ của Việt Nam.

Nếu Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, thì đồng nghĩa sẽ xuất hiện những đảng phái được bảo trợ, dung túng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Khi đó, Việt Nam không phải đối mặt với “giặc ngoài” đang có khả năng xâm phạm an ninh quốc gia, mà còn phải đối mặt với “thù trong” những kẻ sẵn sàng bán nước, hại dân, đánh mất lợi ích quốc gia dân tộc chỉ vì đồng tiền.

Việt Nam là quốc gia có xuất phát điểm đi lên từ chiến tranh, nếu so với điều kiện lịch sử của dân tộc khác, thì đang bị coi là chậm hơn rất nhiều. Sự thật, đến năm 1991 Việt Nam mới hoàn toàn yên tiếng súng, năm 1986 Việt Nam mới thực sự bước vào nền kinh tế mới. Khi đất nước còn đang trên đà phát triển, mà rơi vào cái bẫy đa đảng, thì chính trị Việt Nam sẽ hoàn toàn rối ren, đất nước trở nên hỗn loạn. Mà thực tế, chính trị ổn định sẽ tác động tích cực tới nền kinh tế, chính trị bất ổn sẽ đồng nghĩa với việc kinh tế bị kìm hãm, kéo theo những tiêu cực như chiến tranh, nội chiến, thất nghiệp, đói nghèo,…

Một số nước ở khu vực Đông Nam Á như: Philippine, Indonesia, Thái Lan, Myanmar… đều đang đi theo con đường đa nguyên, đa đảng, nhưng sự thật thì các quốc gia này đã và đang tiềm ẩn những nguy cơ khủng hoảng, mất ổn định chính trị.

Thực tế thì Thái Lan mới tạm thời ổn định và tiến hành bầu cử lại sau 8 năm bất ổn; Tổng thống Rodrigo Duterte – Phillipine buộc phải ký luật cho phép thành lập khu vực tự trị của người Hồi giáo trên đảo Mindanao để chấm dứt nội chiến; Chính phru Myanmar nhiều năm nay vẫn không thể kiểm soát khu vực bang Shan, đây được coi là “tam giác vàng” thủ phủ ma túy của thế giới…

Nói về dân chủ ở Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói về việc đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên hàng đầu như: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”;“Đảng và Nhà nước ta là công cụ của dân, cán bộ là nô bộc của dân”; “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”; “Đảng ta là một đảng cầm quyền…Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”…

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ Dân – Đảng, Đảng – Dân, chính là mối quan hệ giữa chế độ dân chủ và đảng cầm quyền. Điều này đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và của nhân dân Việt Nam. Từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa yêu nước, đã kết tinh thành Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng; được thể chế hóa thành Hiếp pháp, pháp luật của Nhà nước để phục vụ lợi ích của nhân dân.

Những ngày hôm nay, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách “khuyên” nhân dân Việt Nam yêu cầu thực hiện đa đảng để được dân chủ, đất nước sẽ phát triển, đời sống nhân dân sẽ được tốt đẹp hơn. Nhưng hãy nhìn vào thực tế ở các nước tư bản hiện tại và sự bình yên, độc lập và phát triển của Việt Nam hôm nay. Chúng ta sẽ nhìn ra chiều bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, đừng để khi “sự đã rồi” thì mới thấy được viễn cảnh dân chủ của tư bản không thực sự như những gì họ vẫn nói.

(Theo butdanh)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Thích và chia sẻ bài này trên: