Nguyễn Phú Trọng » Đảng Cộng Sản Việt Nam » “Cần kiệm liêm chính” nếu “thiếu một đức thì không thành người”

(Đảng Cộng Sản Việt Nam) - Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Cần kiệm liêm chính” gồm 4 bài báo với bút danh Lê Quyết Thắng đăng trên báo “Cứu quốc” các số ra ngày 30/5, 31/5, 1/6 và 2/6/1949. Đã tròn 70 năm trôi qua, nhưng những nội dung mà Người đã đề cập trong tác phẩm khi xưa vẫn luôn nóng hổi tính thời sự và có giá trị thiết thực.

“Cần kiệm liêm chính” nếu “thiếu một đức thì không thành người”

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, là chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có lòng yêu thương vô hạn đối với nhân dân, điểm nổi bật ở người là sự tôn trọng nhân dân và niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh vô hạn của nhân dân, Người hết sức nhấn mạnh tinh thần dân chủ trong sinh hoạt chính trị, công tác tuyên truyền và giáo dục, nhằm thức tỉnh toàn dân tộc trước sự nghiệp chung, phát huy cao nhất sức mạnh của trí tuệ, tài năng và nghị lực của hàng triệu con người.

Tác phẩm “Cần kiệm liêm chính” của Chủ tịch Hồ Chí Minh hơn 70 năm vẫn còn nguyên giá trị

Trong di sản Hồ Chí Minh, Người đã tỏ rõ một nghị lực phi thường và sống với phương châm “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không hề chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Với tinh thần “Cần, kiệm, liêm, chính” và chính Người đã sống một cuộc sống thanh cao, giản dị. Từ đó sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức sáng ngời của Người sống mãi trong lòng kính yêu vô hạn của nhân dân Việt Nam.

Trong tác phẩm “Cần kiệm liêm chính” ở đầu bài viết, Người khẳng định: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc”

“Cần, kiệm, liêm, chính” được người coi là nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng của mọi cán bộ, đảng viên. Những đức tính cần có ấy của con người giống như bốn mùa của trời, bốn phương của đất; con người nếu thiếu một trong những đức tính đó thì không thể trở thành người tốt đẹp. Ở giá trị dân tộc thì Người cũng nhấn mạnh thêm một lần nữa: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ.”

“Cần” tức là lao động cần cù, siêng năng, chăm chỉ trong lao động; lao động còn có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”, bởi tất cả mọi người ai cũng “cần” thì bản thân mới tiến bộ, gia đình mới ấm no và nhân dân mới hạnh phúc, quê hương – đất nước mới giàu mạnh.

“Kiệm” theo Hồ Chí Minh chính là tiết kiệm, tiền bạc, tài sản sử dụng có kế hoạch và có mục đích, không xa xỉ hoang phí, phô trương hình thức. Trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa, con người không chỉ phải tiết kiệm tiền bạc, sức lực mà còn phải tiết kiệm thời gian.

“Liêm” tức là luôn luôn sống trong sạch, không tham lam địa vị, tiền tài, sung sướng, bổng lộc… Là một người cán bộ, Đảng viên đặc biệt phải nâng cao chữ “Liêm” và chỉ được có một thứ ham duy nhất, đó là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

“Chính” theo Hồ Chí Minh “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với bản thân không được phép tự cao, tự đại, phải luôn luôn chịu khó học tập tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi những điều dở của bản thân. Là một người cán bộ, Đảng viên người đề cao tính chính trực, không nhịn hót người trên, không xem thường người dưới. Người nói: “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi mà có hại cho nước thì quyết không làm”.

Bên cạnh việc giáo dục cán bộ, đảng viên cần phải thực hiện nghiêm túc “Cần, kiệm, liêm, chính”, thì Người cũng cũng đã đưa ra những cảnh báo nếu cán bộ, Đảng viên đánh mất giá trị trước nhân dân. Người nói: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.”

“Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân…Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu… Mình là người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người tài năng, làm được việc… Chớ lên mặt làm quan cách mệnh.”

“Lồng quy chế” phòng chống tham nhũng để ngăn chặn cán bộ tha hóa, biên chất

Sau năm 1986 mốc thời gian lịch sử đánh dấu sự chuyển đổi nền kinh tế đất nước từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng và Nhà nước khi đó đã có những chủ truong phát triển kinh tế thị trường vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, chứ không phải phát triển kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa.

Sự chuyển đổi là bước ngoặt tiến bộ trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận những giá trị, tinh hoa văn hóa của nhân loại. Nhưng bên cạnh việc đi theo định hướng phát triển nền kinh tế thị trường đã đạt được những thành quả tích cực. Thì trong xã hội cũng có những biến động rất đáng lo ngại về mặt đạo đức, lối sống và nhận thức đối với con người Việt Nam trong đó đặc biệt cần quan tâm là một phần độ ngũ cán bộ, đảng viên.

Trên thực tế, có những cán bộ, lãnh ddaoh hiện nay được nắm giữ trong trách trong quản lý kinh tế hay trong quản lý nhà nước, đã phần nào bị tha hóa để trở thành chỗ dựa cho người thân, lợi dụng cơ hội để tham ô, tham nhũng, sống xa hoa lãng phí, rồi để xảy ra tình trạng chạy chức, chạy quyền.

Đại Hội Đảng khóa X đã nhận định: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn đang diễn ra nghiêm trọng chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Những biểu hiện xa rời mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục”.

Đặc biệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã nêu rõ vấn nạn này.

Nghị quyết nhấn mạnh: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái…Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.”

Nghị quyết cũng chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái, bao gồm: 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

“Mọi thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu” – mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nêu cao tinh thần tự giáo, tự ý thức về vai trò của mình trong bộ máy nhà nước, tiếp đến là giá trị to lớn của nhân dân, phụng sự nhân dân.

Nhưng hơn hết, để “nhốt quyền lực trong lồng quy chế” thì cần phải có những con người có “bàn tay sắt” như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Phú Trọng.

Trong suốt 2 năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã nêu cao quyết tâm trong công cuộc đấu tranh phóng chống tham nhũng, nói đi đôi với làm, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ trong phòng chống tham nhũng”. Kết quả là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vi phạm đã được “điểm mặt chỉ tên” và phải chịu trách nhiệm trước Đảng, pháp luật và nhân dân.

Với những kết quả nêu trên, có thể khẳng định, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta thể hiện đúng quan điểm nói đi đôi với làm, trên tinh thần sâu sát, thận trọng, công minh, chính xác, kịp thời. Công cuộc phòng chống tham nhũng càng mạnh bao nhiêu, thì càng khẳng định giá trị tác phẩm “Cần kiệm liêm chính” còn phù hợp với thực tiễn bấy nhiêu.

(Theo Tapchibutdanh)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Thích và chia sẻ bài này trên: